Việt Nam Dân Tộc Tự Quyết
Welcome
Login / Register

Văn Hóa | Culture


  • CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA NƯỚC VIỆT NAM KHÔNG CỘNG SẢN

     

     

     

    CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA NƯỚC VIỆT NAM KHÔNG CỘNG SẢN

    GSTS Trần Thanh Đằng, Việt Nam Dân Tộc Tự Quyết

    Bài thuyết trinh sẽ được chia làm 3 phần. Phần Một: Nền Tảng của Giáo Dục. Phần Hai: Mục Tiêu của Giáo Dục. Phần Ba: Chính Sách Giáo Dục Cụ Thể.

    Phần Một: Nền Tảng của Giáo Dục

    Giáo dục nhằm phát triển con người cho tới mức tối đa mà con gười có thể lãnh hội được. Con người có thế xác và linh hồn. Cột trụ của linh hồn là lý trí (intellect) và ý chí (will). Như vậy giáo dục nhằm phát triển thể xác, lý trí và ý chí. Các nhà triết học đã định nghĩa con người là môt con vật có lý trí. Con người khác với con vật ở chỗ có lý trí mà con vật không có. Có bốn bậc thụ tạo trong thiên nhiên. Bậc thứ nhất, các vật không có sự sống, không có hồn như đất, đá. Bậc thứ hai, cây cỏ có sự sống, được nhìn thấy qua sự tăng trưởng và tồn tại nhờ thức ăn từ trong lòng đất và nước uống do thiên nhiên hay loài người ban cho. Cây có có sự sống nhờ cây cỏ có hồn gọi là hồn cây cỏ (vegitative soul). Hồn cây cỏ biến mất khi cây cỏ chết đi vì thiếu nước hay thiếu dinh dưỡng. Bậc thứ ba, các con vật có bản năng sinh tồn cảm nhận được những tác động từ bên ngoài và phản ứng lại. Thí dụ như con ruồi, muỗi, giun, dế, chó, mèo, cọp, khỉ, vv… Các con vật có giác hồn (sensitive soul) từ cấp thấp như giun (worm) hay cấp cao như chó mèo có năm giác quan gần giống như người và cũng biết sợ, giận dữ, thương yêu. Nhưng một điểm chung của mọi súc vật là giác hồn của chúng đều biến mất khi chúng chết. Bậc bốn, con người có thể xác sống như cây cỏ nhờ thức ăn, thức uống và giống như con vật vì có bản năng và cảm xúc, nhưng cao hơn con vật vì có linh hồn (intellectual soul) gồm lý trí và ý chí. Con vật không có ý chí tự do (free will), chỉ sồng theo bản năng (instincts). Con vật không có lý trí nên không biết cái gì đúng hay sai, phải hay trái. Một con chó được chủ nhà nuôi nhiều năm và rất yêu thương chủ nhà, nhưng nếu nó giận dữ hay đói khát nó vẫn cắn xé hay ăn thịt chủ nhà như thường. Điều này đã xẩy ra nhiều lần ở bên Mỹ và ở VN được báo chí đăng tải. Con người vì có lý trí nên biết được một việc làm là tốt hay xấu, và có ý chí nên có thể chế ngự được những việc làm xấu ấy.  Con người có năm giác quan, nhưng lý trí phải làm chủ nó vì nếu để giác quan và xung động làm chủ lý trí thì không khác gì con vật. Đối với con người, khi kích thích súc giác mang lại cảm giác sung sướng thì lý trí cho biết là điều này có nên hay không nên, và nếu không nên thì ý chí bảo phải ngưng ngay.

    Khi thể xác chết đi, linh hồn của con người vẫn sống, vẫn tồn tại. Khi con người còn sống, linh hồn mượn năm giác quan để thu thập dữ kiện. Nhưng khi thế xác chết đi, linh hồn vẫn có thế nhìn thấy, hay nghe thấy, không cần đến giác quan của thế xác, vì linh hồn là thần khí (spirit) mà các Thiên Thần là thần khí thuần thúy (pure spirit); thuần thúy có nghĩa là không có thế xác làm bằng vật chất. Mà nếu đã là thần khí thì sẽ không bào giờ bị hủy hoại, tức là không bao giờ chết (immortal). Nhưng linh hồn của con người được tạo ra để kết hợp với thể xác, nên chỉ có thể sống độc lập tạm thời mà thôi vì cuối cùng nó sẽ phải tác hợp với thể xác. Nếu linh hồn mà sống độc lập mãi mãi thì đã không được gọi là linh hồn mà gọi là thần khí. Như vậy, khi thể xác mình chết di, mình vẫn còn sống vì linh hồn minh vẫn còn sống.  

    Đến đây câu hỏi dĩ nhiên là “Sau khi thể xác chết đi thì linh hồn sẽ đi đâu?” Khi con người còn sống trên thế gian này thì mỗi người có quyền lựa chộn hành động theo ý của mình vì mỗi người đều có ý chí tự do (free will) riêng. Nhưng khi thể xác chết đi thì linh hồn không còn được tự do làm theo ý mình nữa. Vậy ai điều khiển linh hồn mình lúc đó? Đấng đã tạo ra mình điều khiển linh hồn mình sau khi chết.  Tại sao mình biết có Đấng tạo ra mình? Bởi vì nguyên tắc hiển nhiên “Mình không thể cho những gì mình không có”. Trước khi tôi được sinh ra làm người, tôi ở trong hư vô, có nghĩa là tôi không có sự hiện hữu trong thế giới này. Nếu tôi không có hiện hữu trong thế giới này thì tôi không thể tự cho tôi sự hiên hữu trong thế giới này. Do đó phải có người khác cho tôi hiện hữu. Con người tôi có hai phần: thể xác và linh hồn. Chưa cần nói dến linh hồn vội.

    Hãy nói đến thể xác trước đã. Mình nhìn thấy cha mẹ mình cho mình cái thể xác mình. Nhưng thực sự không phải vậy. Vì nếu cha mẹ mình tạo cho mình cái thể xác mình thì cha mẹ mình sẽ tạo cho mình một thể xác hoàn mỹ nhất. Mình biết hầu hết thể xác các con người đều không hoàn mỹ như ý các cha mẹ muốn.  Bây giờ nói đến linh hồn còn phức tạp hơn. Nếu cha mẹ có thể tạo ra linh hồn mình thì cha mẹ mình sẽ làm cho mình một bản tính thông minh nhất trần gian. Nhưng chúng ta ai cũng đã từng tự trách mình là sao mình ngu thế. Như vậy là có một đấng tạo ra mọi người mà mình gọi chung là Đấng Tạo Hóa (Creator, God). Vậy cha me chỉ là một dụng cụ mà Đấng Tạo Hóa mượn để tạo ra mình. Đấng Tạo Hóa này không có ai tạo ra Ngài, Ngài sống ngoài thời gian, có trước từ thuở đời đời, không có trước và không có sau, Ngài tốt lành vô cùng, thông minh vô cùng và khôn ngoan vô cùng, công bằng vô cùng nhưng cũng nhân từ vô cùng, có quyền lực vạn năng, tạo ra vạn vật trong có Thiên Thần và loài người để chúng được chung hưởng hạnh phúc vời Ngài. Ngài tạo ra hai loài có lý trí và hiểu biết: Thiên Thần và loài người. Muốn được hưởng hạnh phúc với Ngài, họ phải biết Ngài, t yêu mến Ngài, và phụng sự  Ngài. Và ai không biết Ngài, không yêu mến Ngài, và không phụng sự Ngài thì không được hưởng hạnh phúc của Ngài. Thiên Thần nào không yêu mến Ngài và không phụng sự Ngài thí bị phạt thành quỷ dữ. Ngài sẽ phán xét mỗi người chúng ta về ba tiêu chuẩn này, những tiêu chuẩn này được coi là nhiệm vụ của mỗi thụ tạo.  Lương tâm của con người sẽ cho chúng ta biết chúng ta có chu toàn nhiệm vụ này hay không. Đấng Tạo Hóa sẽ phán xét qua lương tâm con người. Lương tâm con người sẽ tố cáo các hành vi bất xứng và những điều thiếu xót về ba phương diện này và linh hồn của mình, sau khi thể xác chết đi, sẽ bị phạt vì những tội ho đã phạm trên trần gian này mà chưa được tha thứ. Đó là lý do tại sao sau khi chết linh hồn mình không còn tự do đi lại theo ý mình vì Vị Thẩm Phán Tối Cao là Đâng Tạo Hóa sau khi đã xét xử mình không còn cho mình tự do nữa mà phài theo ý của Ngài. Nhiều người không biết những điều hệ trọng này nhưng họ sẽ nhận ra khi họ chết, nhưng lúc đó thì đã quá trễ. 

    Phần Hai: Mục Tiêu của Giáo Dục

    Một nền giáo dục đúng đắn phải dặt trên căn bản sự thật về con người như đã mô tả ở trên. Nếu một nền giáo dục không đặt trên nền tảng sự thật thì sẽ hướng dẫn con người đến những sai lầm làm cho xã hội đau khổ, lầm than, băng hoại, và mất trật tự như mọi người chứng kiến trong các nước xã hội chủ nghĩa.  

    Bây giờ chúng tôi đề cập một cách cụ thể, ta phải làm những gì trong chương trình giáo dục của nước VN không cộng sản.

    Giáo dục thể xác gọi là thể dục và thể thao mà các trường học ở VN thời VN Cộng Hòa áp dụng và khuyến khich.

    Giáo dục lý trí nhằm phát triển khả năng suy luận và đánh giá các hiện tượng và sự việc để đi dến một kết luận đúng đắn.

    Giáo dục về ý chí tạo cho con người một ý chí mạnh để cố gắng vượt qua nhũng khó khăn làm ngăn trở cuộc sống tốt đẹp trong đời người. Giáo dục ý chí đòi hỏi phải có một nền luân lý vững chắc để hướng dẫn công cuộc giáo dục. Nếu không, con trẻ sẽ không biết cái gì đúng và cái gì sai và khi lớn lên chúng không biết phải hành sử thế nào cho đúng và sẽ đưa xã hội đến rối loạn. Điển hình là các xã hội theo cộng sản chủ nghĩa vất bỏ các giá trị truyền thống về đạo đức nên xã hội trở nên tao loạn, thiếu tình người, vô cảm. Thí dụ, ở bên Tàu Cộng người ta quay phim được cảnh môt đứa bé 2 tuổi bị xe hơi cán mà không người qua đường nào chạy ra cứu đứa bé đến độ cả hàng chục xe hơi lăn trên người nó và nó đã chết. Những người qua đưỡng thấy con bé lâm nạn mà không một chút thương tâm.  Ngược lại ở bên Mỹ này, hễ có một người vì trật chân mà ngã xuống đường là có cả chục người khác chạy tới giúp đỡ, chứ đừng nói đến tai nạn lớn.

    Một mục tiêu của một nền giáo dục chân chính là phát triển cá tính của con người (character development) để mình trở thành con người có tư cách. Một con người có tư cách là người có lý trí làm chủ được bản thân, có lý trí chế ngự được cảm tính và dục vọng không chính đấng do thể xác đòi hỏi. Một con người có tư cách phải có lương tâm trong sáng, ngay thẳng, trung trực, thành thật, không ăn gian nói dối, không lừa lọc đồng loại. Ở Mỹ, đức tính quan trọng nhất trong xã hội là thành thật (honesty). Một nhân viên trong sở làm mà không thành thật sẽ bị mọi người xa lánh ngay.

    Muốn vậy, cha mẹ và giáo viên phải đạy cho con mình và học sinh nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi của mình. Mỗi người cần được phát triền về mọi phương diện từ thể xác đến tinh thần để đem đến cho mình một hạnh phúc cá nhân và trở thành một phần tử tốt trong xã hội. Nếu một học sinh có một năng khiếu về vẽ chẳng hạn mà khả năng này không được nhận biết và phát triển thì thật uổng cho cá nhân đó và cho xã hội. Các học sinh phải được dậy nói làm sao, viết làm sao cho đúng cách, làm tính cho trúng, và lý luận cho đúng. Các học sinh phải được dây siêng năng làm việc, tôn trọng bề trên, những cơ quan có thẩm quyền, và giữ kỷ luật. Cha mẹ và giáo viên nên dậy con em mình dùng lý trí kiểm soát các bản năng xấu như hiếu chiến, lười biếng, không thích làm việc, và các đam mê khác như ghiền rượu, ham đánh bạc, đánh cá độ.    

    Phát triển cá tính hay nhân cách đòi hỏi phải ghi nhớ nhũng căn bả của đạo đức như làm lành lánh dữ, điều độ trong mọi sự, và luyện tập các nhân đức như bác ái, công bằng, dũng cảm, khiêm tốn, rộng lượng, kiên nhẫn, vâng lời bề trên, trong sạch, ngọt ngào, nhẫn nhục chịu đựng, khôn ngoan, dễ tha thứ, tin vào đấng tối cao sẽ thưởng cho kẻ lành và sẽ phạt kẻ dữ. Và dậy cho con em xa lánh các tật xấu như tham lam của cải, đố kỵ ganh ghét, ham nhục dục, ham ăn ham uống, lười biếng, giận dữ thù hằn, kiêu ngạo tự phụ.

    Dậy cho học sinh suy luận săc bén để phân biệt thật giả (critical thinking) chứ không phải ai nói gì cũng tin. Một thí dụ điển hình là các lý thuyết gia công sản đề cao thiên đường xã hội chủ nghĩa trong đó mọi người làm việc theo khả năng nhưng sẽ hưởng thụ theo nhu cầu. Nhưng chỉ có it người biết trong cuốn “Communist Manifesto” (Tuyên Ngôn Cộng Sản, nguồn tham khảo liệt kê dưới đây) mà các nước cộng sàn dùng làm thánh kinh và làm cơ bản cho hiến pháp của họ.

     

     

    Tuyên Ngôn này nói rằng mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa cộng sản là hủy bỏ gia đình (“Abolition of the family!”, trang 24), hủy bỏ tôn giáo (trang 26), hủy bỏ biên cương quốc gia hay vô tổ quốc (trang 25), và hủy bỏ mọi quyền tư hữu tài sản cá nhân (“Abolition of private property”, trang 21 và 27). (Karl Marx and Frederick Engels, Communist Manifesto, Authorized English Translation, Edited and Annotated by Frederick Engels, Published online by Socialist Labor Party of America, www.slp.org, November 2006).

    Tuyên Ngôn này là căn cứ cho các chủ trương của các Đảng Cộng Sản trên thế giới. Chủ trương này nói cá nhân và gia đình không có quyền gì hết. Nhưng một khi cá nhân bị tước đoạt tài sản cá nhân kể cả cơm ăn áo mặc, nhà cửa thì con người không còn là con người nữa mà là con vật. Quả vậy, khi gia đình bị phá hủy thì không còn xã hội loài người nữa mà chỉ còn những con vật tụ tập lại với nhau mà thôi. Nhưng mà bản chất của con người là không thể sống lẻ loi đơn độc mà phải sống trong cộng đồng. Không có cộng đồng mà gia đình là phần tử cộng đồng nhỏ bé nhất thì con người sẽ chết.  Nói tóm lại, chủ nghĩa cộng sản được lập ra nhằm tiêu diệt con người qua sự tiêu diệt xã hội tự nhiên của con người. Ấy vậy mà có hàng triệu người nhắm mắt đi theo, vô tình cộng tác vào âm mưu hủy diệt nhân loại. Chế độ cộng sản trên toàn thế giới đã giết chết ít nhất 80 triệu người, hơn bất cứ một chủ nghĩa nào khác. Một nền giáo dục thật sự chân chính phải vạch ra những sai lầm nghiêm trọng đó.  

    Phần Ba: Chính Sách Giáo Dục Cụ Thể

    Nội dung của giáo dục thay đổi tùy thuộc tuổi của học sinh. Từ 6 tuổi đến 10 tuổi trẻ con ưa bắt chước nên giáo viên phải làm gương tốt lập đi lập lại để cho con trẻ noi gương. Nội dung gồm các phép tính cộng trừ nhân chia, tập đọc tập viết, những câu chuyện về luân lý như bát canh hẹ, Lưu Bình Dương Lễ, vv… giáo viên nên kể ra để tạo ấn tượng mạnh cho chúng về các bài học luân lý này. Trong tuổi này học nhạc cũng khiến những đứa trẻ có năng khiểu được phát triển.

    Từ 11 tuổi đến 14 tuổi, các môn khoa học có thể được giảng dậy nhất là đại số và hình học. Ván chương và ngôn ngữ cũng cần để làm nên tảng sửa soạn cho luận lý học và triết học trong 3 năm cuối cùng của trung học. Lich sử Việt Nam cần được đặc biệt chú trọng để nhắc nhở con em về 1,000 Bắc thuộc và ý chí quật cường của tổ tiên ta đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc..

    Từ 15 đến 18 tuổi, các môn khoa học được dào sâu hơn và học sinh có thể chon lựa chuyên biệt về toán lý hóa, vận vật, hay văn chương. Năm cuối cùng của trung học, phuong pháp suy diễn và quy nạp cơ bản cần được triển khai. Học sinh cần học những chân lý có từ ngàn xưa mà những chân lý này không thay đổi theo thời gian. Nhũng chân lý này thuộc nhiều lãnh vực và các tiêu chuẩn về luân lý và lý trí cần được đề cập tới. Thí dụ một chân lý ngàn đời đúng cho mọi thời đại và mọi quốc gia là: “Đừng làm cho người khác những gì mình không muốn người ta làm cho mình.” Một thí dụ thứ hai là: “hãy yêu thương người khác như chính mình.” Một thí dụ thứ ba: “Hãy làm lành và lánh dữ”, “Hãy điều độ trong mọi sự.”

    Trong suốt 7 năm trung học, mọi học sinh đều phải học hai ngoại ngữ, một chính và một phụ. Có những lớp dạy công dân giáo dục cho học sinh để ai cũng phải biết bổn phận công dân đối với tổ quốc.

    Đến cuối năm cuối cùng của trung học, học sinh phải qua một kỳ thi tốt nghiệp trung học.

    Từ 19 tuổi trở lên những học sinh nào đã có bằng tốt nghiệp trung hộc đều được nhận vào đại hoc.

    Có hai loại đại học: đại học phổ thông và đai học chuyên nghiệp kỹ thuật. Mục đích của đại học phổ thông là tập cho sinh viên cách thu thập kiến thức và nghiên cứu tìm tòi giảỉ pháp thích hợp cho những vấn đề gặp phải trong công việc ở sở làm, trong cuộc sống hàng ngày, và trong nền kinh tế của quốc gia.

    Đại học kỹ thuật chuyên nghiệp dậy cho sinh viên những kỹ thuật mới nhất đang áp dụng tại các kỹ nghệ tân tiến trên thế giới để khi ra trường các sinh viên với kiến thức chuyên thu lượm được có thể làm việc ngay tại các công ty với vai trò phụ trách thiết kế sản phẩm và chế biến sản phẩm đó.    

    Đối với các học sinh không tốt nghiệp trung học, họ có thể ghi tên học ở các trường dậy nghề do chính phủ mở ra và tài trợ. Mọi cơ hội huấn luyện được mở ra cho tất cả mọi người không phân biệt già trẻ hay trai gái. Ai muốn đi học bình dân giáo dục thì sẽ có những lớp dành cho người già hay các bà nội trợ.

    Chính phủ sẽ trợ cấp cho các sinh viên nghèo nhưng học giỏi. Ai cũng có thể vay tiền nhà nước với lãi suất nhẹ để đi học đại học. Các trường trung tiểu học công lập đều miễn phí. Nhưng ghi danh ở đại học thì phải đóng một khoảng tiền nhỏ.  

    Những sinh viên xuất sắc sẽ được gửi đi du học ở nước ngoài.       

    Một vấn đề lớn của người Việt chúng ta là hợp tác với nhau trong bất kỳ công tác nào. Người Việt nói chung được tiếng là thông minh sắc bén nhưng lại thích độc lập và không muốn làm việc chung với người khác. Một người phi công Nhật có một nhận xét về người Việt Nam như sau: “Cá nhân mỗi người Việt là những hạt kim cương, còn người Nhật chúng tôi là những cục đất sét.” Quả nhận xết này thật đúng với tích cách của hai giống dân. Đất sét gặp nước có thể nhào nặn lại thành một cục lớn tạo một năng lượng lớn làm được việc.  Còn kim cương dù gặp nước cũng không dính với nhau được (không hợp tác được). Người Nhật đoàn kết với nhau trong công việc vì lòng yêu nước. Còn ngay cả những người Việt yêu nước cũng không làm việc chung với nhau được. Ngày nay, rất nhiều dự án đòi hỏi làm việc chung với nhau gọi là team work (công tác đồng đội). Mà nếu không làm việc với nhau thì làm sao công ty hay quốc gia thành công được. Một nền giáo dục hữu hiệu phải giải quyết vấn đề này. Cần dậy học sinh và sinh viên có tinh thần đồng đội qua các dự án trong lớp trong đó lớp chia ra nhiều nhóm học sinh và mỗi nhóm làm một bài riêng.   

    Chúng tôi xin chấm dứt ở đây.

    Trân trọng cám ơn quí vị.

    Read more »
  • Nam quốc sơn hà 南國山河

     

    Nam quốc sơn hà 南國山河 • Sông núi nước Nam

      




     

    Nam quốc sơn hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

     

    Dịch nghĩa

    Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
    Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời.
    Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
    Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

    Tương truyền, năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn. Nhiều trận chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát, ở phía nam bờ sông, giả làm thần đọc vang bài thơ trên. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hoà, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ vững bờ cõi Đại Việt. Một số nhận định xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.

    Bài thơ này nằm trong truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát. Có tài liệu gắn truyền thuyết này với Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến chống quân Tống năm 1076, sớm nhất là Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên đời Trần), sau đó được nhiều sách sử khác như Đại Việt sử ký toàn thưViệt sử tiêu án,... chép lại. Trong khi đó, sách Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp đời Trần) lại gắn truyền thuyết này với cuộc chiến chống quân Tống lần thứ nhất thời Tiền Lê của Lê Đại Hành năm 981, với nội dung như sau:

    南國山河南帝居,

    皇天已定在天書。

    如何北虜來侵掠,

    白刃翻成破竹餘。

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

    Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.

    Như hà Bắc lỗ lai xâm lược,

    Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.

    (Sông núi nước Nam thì vua Nam ở.

    Thượng đế đã định như vậy trong sách trời.

    Cớ sao giặc phương Bắc lại tới đây xâm lược,

    Gươm sáng sẽ chém hết các ngươi tan tành như chẻ tre.)

    Ngoài ra, bài thơ còn có khoảng hơn 30 dị bản được chép trong các sử và sách khác nhau. Tiêu đề bài thơ do nhóm biên soạn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thêm.

    Source: Thivien

     

    Read more »
  • China’s Conspiracy to Hanization of Vietnam

     

    China’s Conspiracy to Hanization of Vietnam

    Mr. Ly Ddong A, Chief Secretary of For-the-People Party in his work Chu Tri Luc volume 1 states that according to the history of China, a law was found “Promote Chinese and Destroy non-Chinese”. This principle has been and is being applied by China.

    He says that this principle has been carried out clearly through Vietnamese history in which Vietnam has been repeatedly occupied and assimilate effort was made to eradicate our culture and race. And this not only occurs in feudal dynasties of China but to modern China as well.

    In 1885, the revolutionary personality Ton Van (Ton Dat Tien, Ton Trung Son) in China advanced an extreme nationalistic jingoistic theory consisting 6 main points:

    1. As “Han race is superior” other races should be assimilated to the Han culture in order to create a unified world through subjugating all surrounding peoples.
    2. These weaker peoples must belong to China in a form of autonomous province or region.
    3. As the patriotic Vietnamese Phan Boi Chau mentioned that Vietnam must drive away the French, Ton Van replied: “There is no need for you do do that, since Vietnam is only a province of China, when we drive away the french then your work will be done.” Not only that, Chiang Kai Shek who inherited the revolutionary movement from Ton Van told some Vietnamese traitors  in 1942-43: “Vietnamese are Chinese, Vietnam must let us do the job (of fighting independence for Vietnam).”
    4.  Chinese Nationalist Party under Chiang Kai Shek instructed their members and people the following: “Vietnam is a colony of China; we must regain all land that we lost, that is Vietnam.”
    5.  The education system under Chiang Kai Shek before being defeated by Mao Tse Tung instructed students at all levels of the above statement.
    6.  In 1940, Chiang Kai Shek created a new ministry called Geopolitics Department which devised a long-run strategy to expand the Chinese race Han in the following regions:

    (1)             Manchuria.

    (2)             Tibet, Persia.

    (3)             Xinjiang Uyghur.  

    (4)             India. 

    (5)             Vietnam, Thailand, Burma, Singapore.

    (6)             Indonesia.

    (7)             Australia.

    (8)             Pacific Islands, Korea.

    The strategy to take over Vietnam was undertaken by the Department for Expatriate Chinese is as follows:

    (i)                           Being married to Vietnamese women.

    (ii)                         Use Vietnamese money.

    (iii)                      Stay in Vietnam.

    (iv)                       Northern Vietnam is destined to belong to China.

    (v)                         Central and Southern Parts of Vietnam will be dominated by expatriate Chinese.

    (vi)                       Government under Chiang Kai Shek studied how to turn Vietnam into a province of China, how to cultivate Vietnamese traitors, how to destroy Vietnamese language, how to eliminate the nationalist ideology, how to make Vietnamese to believe that they are Chinese Han, how to resurrect the old Chinese-character Vietnamese language, how to propagate three principles of the people (Independence, freedom, and happiness), how to dominate Vietnam.

    The above policy was implemented in Vietnam under both the republic and communist regimes in Vietnam. In both cases, the Chinese business people still dominated the Vietnamese economy, just as they did in Thailand, Malaysia, Singapore, Indonesia, and the Philippines. Unfortunately, they failed in Indonesia in 1965-1966 when the Indonesian army massacred from 500,000 to 3 million Chinese as a reaction against their support for the communists in Indonesia. 

    As for Vietnam, our history shows a clear trend: China’s desire to conquer Vietnam is unrelenting and will never end. Therefore, there is only one way for us: fight to the last breath to maintain independence from China. Thus the slogan: Vietnam people’s self-determination is our principle of survival. And the Vietnamese people will win in the end as has been shown by our heroic history.

       

    Read more »
RSS